Home Sức Khỏe Các phương pháp định lượng glucose trong máu

Các phương pháp định lượng glucose trong máu

by admin

Định lượng glucose là phương pháp xác định nồng độ glucose bằng cách đo đường huyết tại nhà, xét nghiệm enzym ở bệnh viện để sàng lọc bệnh đái tháo đường.

Glucose (đường) được tạo ra từ các thực phẩm mà chúng ta ăn hàng ngày, là nguồn năng lượng chính của hầu hết các tế bào trong cơ thể. Glucose bị thiếu hụt hay dư thừa đều khiến sức khỏe bị ảnh hưởng trầm trọng, gây ra các vấn đề như tăng đường huyết, hạ đường huyết, biến chứng lên thận, mắt, tim, mạch máu…

Thông qua chỉ số định lượng glucose trong máu, bác sĩ sẽ đánh giá bạn có bị đái tháo đường hay không, từ đó có kế hoạch điều trị hợp lý bằng thuốc, điều chỉnh chế độ ăn uống lành mạnh. Định lượng glucose trong máu của mỗi người là khác nhau, có thể biến đổi theo thời gian. Nếu mức đường huyết quá cao, người bệnh có thể rơi vào tình trạng nguy hiểm như tăng áp lực thẩm thấu máu, nhiễm toan ceton…

Lợi ích của định lượng glucose trong máu

Bác sĩ CKI Võ Trần Nguyên Duy, khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM cho biết, người bệnh có thể tự thực hiện định lượng glucose tại nhà bằng các thiết bị đo đường huyết cá nhân. Nhưng kết quả này chỉ mang tính theo dõi đường huyết để điều chỉnh chế độ sinh hoạt, ăn uống, không có giá trị chẩn đoán. Bất kỳ khi nào người bệnh thấy không khỏe đều nên đo đường huyết.

Trước các cuộc phẫu thuật, người bệnh đái tháo đường cần kiểm tra đường huyết để bác sĩ điều chỉnh liều lượng thuốc gây tê, gây mê, tránh diễn tiến xấu trong ca mổ. Hậu phẫu, bệnh nhân được đo đường huyết liên tục cho đến ổn định, ăn uống bình thường.

Định lượng glucose tại nhà bằng các thiết bị đo đường huyết cá nhân. Ảnh: Shutterstock

Định lượng glucose tại nhà bằng các thiết bị đo đường huyết cá nhân. Ảnh: Shutterstock

Định lượng glucose trong máu ở mức bình thường vào buổi sáng (khi chưa ăn uống, trung bình sau nhịn ăn ít nhất 8 tiếng) là khoảng 73.8 mg/dl – 106.2 mg/dl (tương đương 4.1 mmol/l – 5,9 mmol/l). Sau khi ăn khoảng 1-2 tiếng, nồng độ glucose trong máu tăng lên nhưng vẫn ở dưới ngưỡng 126 mg/dl (7.0 mmol/L). Nếu định lượng glucose trong máu cao hơn mức kể trên thì người bệnh có khả năng mắc rối loạn dung nạp glucose. Nếu đường máu tại thời điểm bất kỳ lớn hơn 200mg/dl (11.1 mmol/l) có thể đã mắc bệnh đái tháo đường.

Cách thực hiện định lượng glucose máu

Bác sĩ Nguyên Duy chia sẻ thêm, định lượng glucose máu được thực hiện bằng hai phương pháp hóa học và enzyme. Phương pháp hóa học mất nhiều thời gian, tính hiệu quả thấp nên ít được sử dụng. Trong khi đó, phương pháp enzyme cho kết quả nhanh, độ đặc hiệu cao nên được áp dụng rộng rãi. Có 3 loại enzyme được áp dụng phổ biến là enzyme hexokinase, glucose oxidase và glucose dehydrogenase.

Glucose oxydase

Bệnh nhân được lấy máu bằng cách dùng lưỡi kim chích vào đầu ngón tay, sau đó nhỏ một giọt máu lên thuốc thử được liên kết với dải giấy chứa glucose oxidase. Nồng độ glucose được ước tính bằng cách so sánh với biểu đồ màu hoặc dùng máy đo độ phản xạ cầm tay dành riêng cho dải giấy thuốc thử.

“Ưu điểm của phương pháp này là thời gian nhanh và chi phí thấp. Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn thủ công nên kết quả dễ bị tác động. Thông thường, phương pháp này sẽ cho chỉ số glucose máu thấp hơn mức thực tế”, bác sĩ Nguyên Duy nói.

Enzyme hexokinase

Định lượng glucose máu bằng phương pháp sử dụng enzyme hexokinase được thực hiện tại các bệnh viện lớn có trang thiết bị máy móc tự động, hiện đại, cho kết quả chính xác. Tuy nhiên, chi phí của xét nghiệm này cao hơn so với các phương pháp khác.

Enzyme glucose dehydrogenase

Định lượng glucose bằng enzyme glucose dehydrogenase (GDH) có thể thực hiện tại nhà, cách thức đơn giản và cho phản ứng nhanh. Tuy nhiên, người bệnh cần tìm hiểu kỹ loại máy đo đường huyết để chắc chắn về độ chính xác.

Bác sĩ Nguyên Duy cho biết, dựa vào chỉ số định lượng glucose trong máu, bác sĩ đưa ra kết luận người bệnh có bị đái tháo đường hay không. Các kết quả định lượng glucose bất thường còn cho thấy một bệnh lý nào đó. Glucose trong máu thường thấp hơn 4.1 mmol/l trong các trường hợp: các bệnh ở tuyến tụy khiến tăng sản xuất insulin bất thường; tụt đường huyết do ăn uống kém trong thời gian dài, vận động thể lực quá sức; tổn thương tuyến thượng thận, tuyến giáp, tuyến yên, gan; sau phẫu thuật cắt dạ dày; uống quá liều thuốc đái tháo đường.

Chỉ số glucose máu tăng cao hơn 7.0 mmol/l thường gặp trong các trường hợp: mắc các bệnh lý đái tháo đường, viêm tụy hoặc các bệnh lý trên tuyến yên, tuyến thượng thận; đang điều trị với các thuốc corticoid hoặc ACTH (hormone kích thích vỏ thượng thận); nhiễm độc giáp, stress quá mức…

Bác sĩ thường chỉ định người bệnh thực hiện định lượng glucose máu lúc đói. Nếu kết quả định lượng glucose máu trên 7 mmol/L, người bệnh bị đái tháo đường. Trường hợp định lượng glucose khoảng 6,4-7 mmol/L, người bệnh bị rối loạn huyển hóa đường (hay tiền đái tháo đường). Người bệnh cần uống thuốc theo đơn của bác sĩ chỉ định và xây dựng chế độ ăn uống phù hợp. Người bị tiền đái tháo đường cần xây dựng chế độ ăn uống sinh hoạt để tránh bệnh tiến triển sang đái tháo đường.

Nguyễn Trăm


Các bài khác